TRANG CHỦTÌM KIẾMSƠ ĐỒ WEBSITELIÊN HỆ
 Thứ bảy, Ngày 17 Tháng 11 Năm 2018 [English]
TRANG TIN ĐƠN VỊ
  Đang truy cập: 11  
 
5 7 3 8 5 6 3
 
 
Tin tức
Bước đầu ứng dụng trị liệu ô xy cao áp trong lâm sàng

Y HỌC DƯỚI NƯỚC VÀ CAO ÁP, ỨNG DỤNG TRỊ LIỆU

Ô XY CAO ÁP TRONG LÂM SÀNG

 1. NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP NGỘ ĐỘC KHÍ CACBON MONOXIDE(CO) NẶNG ĐƯỢC VIỆN Y HỌC BIỂN VIỆT NAM CẤP CỨU THÀNH CÔNG

                                                                                                     Nguyễn Trường Sơn

                                                                                                    Trần Thanh Cảng  

                                                                                                     Nguyễn Văn Non                                                                                                                                                                                   Đặng Duy Nhất,

                                                                                                      Nguyễn Bảo Nam

                                                Viện Y học Biển Việt Nam

1. Mô tả ca bệnh và hoàn cảnh xảy ra tai nạn

BN Hoàng Thị O sinh năm 1970 tại Đồ Sơn, Hải Phòng. 0 giờ ngày 27/8/2013, nhà bị mất điện lưới, nên đã chạy máy phát điện để chạy điều hoà, nên các cửa đều đóng kín, đến 10 giờ ngày 27/8/2013 không thấy nạn nhân dậy nên gia đình kêu hàng xóm trợ giúp phá cửa vào thì phát hiện cả 2 vợ chồng nạn nhân bất tỉnh, nạn nhân được đến bệnh viện Đồ Sơn cấp cứu, nhưng chồng nạn nhân đã tử vong. Bệnh nhân O tiếp tục được gia đình đưa lên Bệnh viện ĐHYD HP cấp cứu lúc 11 giờ 20, nhưng không đỡ nên đến 12 giờ 50 bệnh nhân được chuyển lên Khoa hồi sức cấp cứu, Bệnh viện V-T để điều trị tiếp. Tại đây bệnh nhân được hồi sức và thở ô xy tinh khiết nhưng kết quả không có tiến triển. 16 giờ 40  bệnh nhân được Bệnh viện chuyển đến Viện Y học biển Việt Nam để điều trị tiếp.

Khi đến Trung tâm Y học dưới nước và ô xy cao áp của Viện Y học biển Việt Nam, bệnh nhân ở trong tình trạng:

- Da toàn thân và niêm mạc đỏ (không phải hồng hào), bệnh nhân bị mất ý thức, kích thích, vật vã, giãy giụa mạnh, khó thở, mạch nhanh, tần số mạch là 108 lần /phút, huyết áp 100/70 mmHg… Xét nghiệm enzym CK toàn phần = 56.200 U/L, CKMB = 500 U/L, đỗ bão hoà ô xy máu động mạch SpO2 < 90 %.

- Đùi trái có vết bầm giập, sưng nề. Cẳng chân trái có một số chỗ bầm tím. Không phát hiện thấy liệt.

2. Chẩn đoán

            Bệnh nhân bị ngộ độc khí cacbon monocide (CO) do hít phải khói máy phát điện ở giai đoạn muộn (7 giờ sau khi phát hiện) và chỉ định cho điều trị khẩn cấp bằng trị liệu ô xy cao áp (HBOT).

3. Quá trình điều trị

            - 16 giờ 50 bệnh nhân được đưa vào buồng cao áp cùng với kíp nhân viên hồi sức, 17 giờ bệnh nhân được chạy liệu trình đầu tiên với liều 2,5 ATA x thở 20 phút O2 x 5 phút không khí nén/ chu kỳ và thời gian điều trị  trong buồng là 3 giờ. Thời gian ở trong buồng bệnh nhân vẫn được bù nước, điện giải. Sau liệu trình thứ nhất, bệnh nhân ngồi dậy được, tỉnh táo hơn, bắt đầu nhớ các sự kiện trước khi bị tai nạn. Tuy nhiên,  trí nhớ của bệnh nhân chưa được phục hồi hoàn toàn, đùi trái sưng khá to, cảm giác không rõ, cử động rất khó khăn.

- Bệnh nhân được chỉ định điều trị tiếp liệu trình HBOT thứ 2 lúc 0 giờ ngày 29/8/2013 với liều lượng như liệu trình 1. Kết quả điều trị cho thấy bệnh nhân tiến triển rất tốt, tinh thần và trí nhớ của bệnh nhân đã được hồi phục hoàn toàn. Các enzym CK và CKMB và enzym GOT, GPT giảm dần. Xét nghiệm chức năng thận: bình thường.

Tuy nhiên, đùi và chân trái bệnh nhân sưng rất to, vận động hạn chế, cảm giác da mặt ngoài chân trái còn tê bì, nhưng động mạch khoeo và mu chân vẫn đập rất rõ.

- Xét nghiệm ngày 30/8/2013: các enzym gan, cơ vân có xu hướng tăng lên đáng kể. Bệnh nhân được làm siêu âm 2D đùi T: cho thấy cơ đùi T có nhiều khu vực giảm hồi âm dạng xung huyết, Doppler mạch đùi trái (T) và động mạch khoeo: kết quả cho thấy phổ Doppler bình thường, không phát hiện thấy dấu hiệu huyết khối hay cục máu đông. Chụp CT-Scaner đùi T: thấy có một số ổ giảm tín hiệu dạng xung huyết.

- Xét nghiệm hoá sinh thấy: enzym GOT, GPT, CK và CKMB tăng cao hơn ngày đầu tiên. SpO2 tăng cao lên 96-98 %.

Chẩn đoán bổ sung: Hội chứng tiêu cơ vân do chấn thương đụng giập đùi T.

Hướng điều trị: tiếp tục trị liệu ô xy cao áp 2,5 ATA x 2 lần/ ngày, kết hợp với kháng viêm, an thần.

- Kết quả điều trị: đến ngày thứ 4, các enzym giảm dần, đùi T nhỏ đi rõ, vận động của chân T gần như bình thường. Đến ngày thứ 7, bệnh nhân bắt đầu tập đi.

Đến ngày thứ 10, các emzym trở lại mức bình thường, bệnh nhân bình phục hoàn toàn và xuất viện.

Kết luận

1. Đây là một trường hợp ngộ độc khí cacbon monoxide (CO) rất nặng lại được đưa đến Viện Y học biển Việt Nam rất muộn (7 tiếng sau khi bị tai nạn) đã đươc Trung tâm y học dưới nước và ô xy cao áp cấp cứu thành công bằng trị liệu ô xy cao áp.

2. Bệnh nhân cũng là trường hợp đặc biệt vì bị cả hội chứng tiêu cơ vân do đụng giập cơ đùi T nặng và cũng được điều trị khỏi nhờ trị liệu ô xy cao áp.

3. Trị liệu ô xy cao áp là kỹ thuật còn mới ở nước ta, đang được phát triển rất nhanh và khả năng ứng dụng điều trị trong lâm sàng rất lớn nên cần được nhân rộng.

2.  NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP HOẠI THƯ SINH HƠI Ở BỆNH NHÂN BÀN CHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ THÀNH CÔNG VỚI TRỊ LIỆU OXY CAO ÁP (HBOT)

                                                                  Nguyễn Trường Sơn, Nguyễn Bảo Nam,

                                                                 Nguyễn Văn Non, Phan Thị Thu Hằng,

                                                               Nguyễn Duy Duyên, Nguyễn Trung Dũng

                Viện Y học biển Việt Nam

 1.Bệnh nhân Bùi Thị T, nữ, sinh năm 1950, có tiền sử THA – ĐTĐ > 10 năm điều trị đều. Gần đây, bệnh nhân xuất hiện sưng đau nhiều bàn chân T, sưng to dần lên đồng thời thấy da vùng búp ngón chân III và gan bàn chân T chuyển màu đen à nhập viện khoa Ngoại, viện y học biển Việt Nam, lúc 8h30’ ngày 04/07/2014. Khám thấy: da vùng mu chân và gan bàn chân T viêm tấy đỏ, da ấm, sờ nắn thấy có dấu hiệu lép bép toàn bộ vùng mu chân T, sờ nắn có cảm giác đau chói. Có 2 vết hoại tử đen vùng búp ngón III và gan bàn chân T, ổ hoại tử ở gan bàn chân T có rỉ ít mủ thối. Bệnh nhân không đi được và tình trạng nhiễm trùng toàn thân nặng.

2.Chẩn đoán: Nhiễm trùng hoại thư sinh hơi bàn chân T trên bệnh nhân ĐTĐ  tuýp 2 - THA

3.Điều trị: Bệnh nhân được bắt đầu ngay liệu trình HBOT đầu tiên với liều 2,5 ATA x 90 phút O2 vào lúc 14h25’ ngày 4/7. Ngày tiếp theo nâng liều điều trị lên 2,8 ATA x 90 phút O2 x 1 lần/ngày x 3 ngày. Đến ngày 7/7, bệnh được chỉ định chạy HBOT 2 lần/ngày với áp suất 2,8 ATA x 90 phút O­2. Tuy nhiên, sau khi chạy xong ca 2, bàn chân bệnh nhân thấy đỡ đau ít, vẫn sưng to, nóng đỏ, nhiều tiếng lép bép dưới da, không đáp ứng với thuốc giảm đau, bệnh nhân được nâng liều điều trị lên áp suất 2,8 ATA x 90 phút O2 x 3 lần /ngày. Sau khi ra khỏi buồng cao áp b/n đỡ đau. Tại vị trí gan bàn chân và khe ngón III – IV bàn chân T đang chảy mủ thối, đầu ngón III có dấu hiệu hoại tử đen à tiến hành chích rạch dẫn lưu mủ, ra nhiều mủ thối và tổ chức hoại tử. Sau đó bệnh nhân đỡ đau hơn và ngủ được

Các ngày tiếp theo bệnh nhân tiếp tục HBOT với liều 2,8 ATA x 90 phút oxy x 2 ca ngày (8h và 14h). Đồng thời bệnh nhân tiếp tục được mở rộng tổn thương ở bàn chân để dẫn lưu mủ, vệ sinh ổ mủ hàng ngày bằng betadin, cắt lọc tổn chức hoại tử và giả mạc và ngâm chân với nước lá Bạch Đồng Nữ. Các ngày sau đó, ổ tổn thương ở bàn chân ra ít mủ thối dần, giả mạc ít dần đi và bệnh nhân cũng thấy đỡ đau hơn. Đến ngày 25/7 thì các mép vết thương đã bắt đầu lên tổ chức hạt.

Đồng thời bệnh nhân được phối hợp điều trị thuốc: kháng sinh,kiểm soát đường máu bằng Insulin + Metformin, chống viêm, chống ngưng tập tiểu cầu, kiểm soát HA, bù Albumin, dinh dưỡng nâng cao thể trạng, lợi tiểu đề giảm phù nề tổ chức.

4.Kết quả: sau 4 tuần điều trị bệnh nhân không còn tình trạng nhiễm trùng trên lâm sàng, đau ở chân đã giảm gần như hết, ổ tổn thương ở bàn chân không còn chảy mủ, mép vết thương đã lên tổ chức hạt và hình thành sẹo, không còn nguy cơ phải cắt cụt chi,. Các xét nghiệm Glucose máu ổn định ở gần mức sinh lý (ngày 4/8, Glucose = 5,9 mmol/l).

Kết luận

1. Bệnh nhân vào viện với tình trạng nhiễm trùng nặng được chẩn đoán là “Nhiễm trùng hoại thư sinh hơi bàn chân T trên bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 và tăng huyết áp nặng” có chỉ định cắt cụt chi, đã được điều trị bằng phương pháp trị liệu ô xy cao áp liều cao (HBOT: Hyperbaric oxygen therapy) kết hợp với kháng sinh và chăm sóc ngoại khoa đã cho kết quả rất tốt, BN khỏi bệnh hoàn toàn.

2. Liều điều trị HBOT tối ưu: Áp suất tối thiểu 2,5 dến 2,8 ATA x 90 phút x 2 lần điều trị/ ngày. Thời gian đợt điều trị kéo dài khoảng 2 – 4 tuần đẫ cho kết quả tốt.

3. Cần có nghiên cứu ứng dụng và chỉ định rộng rãi hơn đối với trị liệu HBOT không chỉ với hoại thư sinh hơi mà cả các loại loét bàn chân tiểu đường khác.

3. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HBO TRONG ĐIỀU TRỊ CHỨNG MẤT NGỦ

TẠI VIỆN Y HỌC BIỂN VIỆT NAM

Nguyễn Văn Thành

Nguyễn Trường Sơn

Viện Y học biển VN

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của HBO trong điều trị mất ngủ ở bệnh nhân ngoại trú. Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 51 bệnh nhân ngoại trú được chẩn đoán là mất ngủ theo tiêu chuẩn của DSM IV và điều trị tại Trung tâm Y học dưới nước và Ô xy cao áp, Viện Y học biển năm 2012. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 54,96 ± 11,126, nhóm tuổi trên 60 là cao nhất 29,4%, người cao tuổi và đã nghỉ hưu là ảnh hưởng nhiều nhất (43,1%). Tỷ số giới tính nữ /nam = 2 (66,7% so với 33,3%). Nhóm bệnh lý phối hợp thường gặp nhất của bệnh nhân là các bệnh lý hệ tim mạch 27,45%. Mất ngủ không rõ nguyên nhân là cao nhất 62,7%. Mất ngủ mạn tính là thường xuyên nhất với 76,5% so với 23,5% thoáng qua mất ngủ. 68,6% bệnh nhân được điều trị với sự kết hợp HBOT – thuốc an thần so với 31,4% số bệnh nhân được điều trị bằng HBOT. 66,7% bệnh nhân đã được điều trị tại 2.2 ATA với 33,3% được điều trị tại 2,5 ATA 60 phút; thời gian trung bình của điều trị là 9,96 ± 4,69 ngày. Thời gian trung bình của giấc ngủ sau khi đã cao hơn đáng kể bệnh nhân trước khi điều trị (4,09 ± 0,21 so với 2,19 ± 0,13; p <0.001). Kết quả tốt chiếm 70,6% so với 13,7% của kết quả xấu chiếm đóng và đã có 15,7% bệnh nhân ngưng và tránh hoặc điều trị. 100% bệnh nhân đã được điều trị bằng Amitriptyline không có cải tiến. Kết luận: HBOT cho thấy hiệu quả ở 70,6% số bệnh nhân bị mất ngủ nhưng những bệnh nhân từng được điều trị bằng Amitriptylin trong tiền sử không đáp ứng với HBOT.

 

 4. CÁC NGHIỆM PHÁP ĐÁNH GIÁ TRẠNG THÁI

TÂM SINH LÝ CỦA THỦY THỦ TÀU NGẦM

                                                                                Phạm Xuân Ninh

                                                                        Viện Y sinh Nhiệt đới-TTNĐ Việt-Nga

Tóm tắt: Trong khi đi biển có nhiều yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến sức khỏe thủy thủ tàu ngầm: quá tải trong hoạt động nghề nghiệp, căng thẳng thần kinh-tâm lý trong những chuyến đi biển độc lập dài ngày, điều kiện khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết vùng biển, ăn uống thiếu rau xanh, không gian chật hẹp, làm việc độc lập cách ly với thế giới bên ngoài. Những yếu tố bất lợi đó không những ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ thuỷ thủ, mà còn làm cho cơ thể nhanh mệt mỏi, làm giảm khả năng lao động, tốc độ xử lý thông tin chậm, gây ra những bất lợi về mặt tâm lý, có thể dẫn đến tai nạn khi đi biển. Vì vậy cần áp dụng các biện pháp nhằm đánh giá trạng thái tâm sinh lý của thủy thủ tàu ngầm, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp dự phòng rối loạn tâm sinh lý và phục hồi sức khỏe cho thủy thủ.

5. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ 

GIẢM ÁP CẤP TÍNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÁI TĂNG ÁP SUẤT KẾT HỢP OXY CAO ÁP TẠI VIỆN Y HỌC HẢI QUÂN NĂM 2011 – 2013

                                                          Ngô Văn Hậu, Lê Đăng Vân 

                                                            Viện Y học Hải quân

 Qua nghiên cứu 14 bệnh nhân bệnh giảm áp cấp tính điều trị tại khoa Sinh lý- Viện Y học Hải Quân từ 4/2011- 7/2013 chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:

1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

-  Đặc điểm lâm sàng:

+ Phần lớn thợ lặn bị bệnh giảm áp ở lứa tuổi <35 tuổi  (71,43%) với tuổi nghề 1- 5 năm (35,71%).

   + Hầu hết bệnh nhân bị liệt hai chi dưới (85,71%), Các bệnh nhân phần lớn đều bí đại, tiểu tiện (78,57%)

          + Đặc biệt có 01 bệnh nhân tổn thương thận gây suy thận cấp.

+ Tai biến bệnh giảm áp thường xảy ở độ sâu lặn trên 30m nước (85,71%).

  -  Đặc điểm cận lâm sàng:

 +Trong bảng 3.9 có (42,86%) tăng men gan GOT, GPT.

 + Có 01/14 bệnh nhân có Ure, Creatinin tăng.

        2. Kết quả điều trị bệnh giảm áp cấp tính tại khoa Sinh lý - Viện Y học Hải Quân.

- Bệnh nhân liệt độ IV,V điều trị theo chế độ 4: 3BN (21,43%)

- Bệnh nhân liệt độ II, III thì điều trị chế độ 2, 3: 8BN (57,14%)

- Tỉ lệ bệnh nhân điều trị khỏi (71,43%), liệt nhẹ (21,43%), 1 bệnh nhân để lại di chứng do đến muộn ( 7,14%)

- Tỉ lệ ngày điều trị trung bình là 18 ngày.

- Không có trường hợp nào tử vong.

6.  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU TRONG ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU

   NÃO  BẰNG TRỊ LIỆU OXY CAO ÁP TẠI VIỆN Y HỌC BIỂN VIỆT NAM

                                                         Phạm Văn Non, Nguyễn Trường Sơn                                                                         Viện Y học biển Việt Nam

Mục tiêu: Bước đầu đánh giá kết quả điều trị nhồi máu não bằng trị liệu oxy cao áp tại Viện Y học biển

Phương pháp: Mô tả hồi cứu

Kết quả: Nghiên cứu kết quả điều trị 218 bệnh nhân bị nhồi máu não bằng trị liệu oxy cao áp trong thời gian từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 7 năm 2014 cho thấy: nhóm bệnh nhân bị bệnh tai biến nhồi máu não đến điều trị HBO sớm trong ngày đầu thì khả năng phục hồi vận động cao nhất (trước điều trị khá và tốt là 6,7%, sau điều trị là 93,3%), khả năng phục hồi vận động giảm dần khi thời gian đến điều trị muộn hơn và nhóm bệnh nhân đến điều trị muộn sau 30 ngày có khả năng phục hồi vận động kém nhất (trước điều trị khá và tốt là 32%, sau điều trị là 50,7%).

Kết luận: Bệnh nhân bị bệnh tai biến nhồi máu não được điều trị bằng HBO càng sớm thì khả năng phục hồi vận động càng cao.

 

Ngày 04/11/2014
Nguyễn Trường Sơn  
[ In trang ][ Xem & in ][ Gửi mail ][ Đầu trang ][ Trở lại ]
 
Ý kiến của bạn
Họ và tên *
Điện thoại Email :
Địa chỉ *
Nội dung *

LỊCH CÔNG TÁC
LỊCH CÔNG TÁC TUẦN 02 NĂM 2018 TỪ NGÀY 08/01/2018 ĐẾN NGÀY 14/01/2018
 
LỊCH CÔNG TÁC TUẦN 02 NĂM 2017 TỪ NGÀY 09/01/2017 ĐẾN NGÀY 15/01/2017
 
Viện Y Học Biển thông báo lịch công tác tháng 4/2012 tới cán bộ nhân viên.
 
Viện Y Học Biển thông báo lịch công tác tháng 5/2012 tới cán bộ nhân viên.
 


 TÁC NGHIỆP
 CHÂN DUNG
TIN VIDEO
How Telemedicine works
 Trang thông tin điện tử Viện Y học biển Việt Nam
Địa chỉ: Đại lộ Võ Nguyên Giáp , P.Kênh Dương,
Q.Lê Chân - TP. Hải Phòng
Điện thoại:84-31-3519 317; Fax- ĐT:84-31-3519687.
Giấy phép thiết lập số: 396GP/ BC ngày 27 tháng 12 năm 2006.
Tổng biên tập: GS.TS. Nguyễn Trường Sơn